Bun-ga-ry
Giai đoạn giữa thế kỷ 7-8 rất quan trọng trong việc hình thành Đệ nhất Đế chế Bungari(Bulgaria). Đại đế Asparuh đã được coi là người đầu tiên đánh bại Đế chế Byzantines và thiết lập Đế chế Bulgaria độc lập vào năm 681. Nhà nước này có cơ cấu chính trị ổn định nhất ở đông nam Châu âu và được thành lập dựa trên sự hoà hợp giữa tộc người Bulgarians và Slavanians. Những năm cuối thế kỷ 7, một Đệ nhị Đế chế Bun-ga-ri xuất hiện trên bản đồ tại bán đảo Macedonia-thuộc một trong các họ Kubert của người Bungary. Trong một thời gian ngắn Đệ Nhị Đế chế Bungari đã trở thành một Đế chế hùng mạnh nhất trên bán đảo Macedonia. Sau đó, trong suốt thời gian Đại đế Tervel cai quản Bungari ông đã thực hiện những cải cách mạnh mẽ trong chính sách của mình để cai trị và ràng buộc họ với Đế chế Byzantine. Năm 718 Đại đế Tervel trở lại Ả rập tại Carigrad để bảo vệ toàn bộ Châu Âu khỏi sự xâm lược của Moslem. Trong những thập kỷ tiếp theo rất nhiều nhà lãnh đạo và chính khách đã lên ngôi vua Bungari. Đại đế Krum (803-814)của Đế chế Byzantine xâm lược và cai trị Bungari. Dưới là các vương hầu chính thể quân chủ ôn hoà cai quản.
Quân chủng đặc biệt: Mục sư Tangra
Lợi thế của Đế chế:
- +10% thêm sản lượng Vàng;
- 10% Lính cung rẻ hơn;
- Cơ hội chữa vết thương cho lính trên chiến trường 150 (200 cho các quốc gia khác)
Frank
Người Frank là bộ tộc sống ở miền Bắc châu Âu. Khi xâm nhập vào xứ Gaule, họ còn đang ở thời kỳ xã hội thị tộc. Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền Roma ở xứ Gaule, Clovit - một thủ lĩnh quân sự tối cao của bộ tộc Frank, đã tiến hành chiến tranh xâm lược xứ Gaule. Trong quá trình xâm lược, Clovit đã chiếm rất nhiều điền trang rộng lớn của quý tộc, chủ nô Roma và mang đất đai đó ban tặng rộng rãi cho quý tộc thị tộc Frank, thân binh và những người thân cận của mình. Những người này trở thành tầng lớp quý tộc mới, những lãnh chúa phong kiến, và là chỗ dựa cho bộ máy chính quyền mới của Clovit. Đến thời Sacle Macten(cầm quyền từ năm 715 đến năm 741), chế độ phong kiến ở Vương quốc Frank lại phát triển hơn một bước. Sacle Macten đã thi hành một hình thức phong cấp ruộng đất có kèm theo chúng những điều kiện phục vụ quân sự. Kị sĩ là đẳng cấp cuối cùng. Họ chuyên làm nghề võ sĩ để bảo vệ lãnh chúa và phục vụ lãnh chúa trong các cuộc chiến tranh. Thế là trong xã hội phong kiến đã hình thành bậc thang đẳng cấp phong kiến, với mối quan hệ phong quân - bồi thần bất di bất dịch. Vương quốc Frank phát triển cực thịnh dưới thời Sacle Manhe. Nhà vua đã tiến hành 55 cuộc viễn chinh lớn nhỏ, chiếm toàn bộ miền Trung Âu và Bắc Italia, lập nên một đế quốc phong kiến rộng lớn – đế quốc Sacle Manhe. Các biên giới nước Pháp hiện đại gần tương tự như những biên giới của nước Gaule cổ, từng là nơi sinh sống của người Gaule Celt. Gaule bị La Mã của Julius Caesar chinh phục vào thế kỷ thứ nhất TCN, và người Gaule sau này đã chấp nhận ngôn ngữ Rôma (La tinh, đã du nhập vào ngôn ngữ Pháp) và văn hóa Rôma. Thiên chúa giáo bắt đầu bén rễ tại đây từ thế kỷ thứ 2 và thứ 3 sau Công Nguyên, và bắt đầu có cơ sở vững chắc từ thế kỷ thứ tư và thứ năm tới mức St. Jerome đã viết rằng Gaule là vùng duy nhất “không dị giáo”. Ở Thời trung cổ, người Pháp đã chứng minh điều này khi tự gọi mình là “Vương quốc Pháp Thiên chúa giáo nhất.” Người Franks (Frankish) luôn bị các bộ lạc người Giéc-manh xâm chiếm lãnh thổ, hoặc bị chia rẽ , họ sống gần biển, và bộ tộc Ripuarian Franks, sinh sống dọc theo sông Rhine.Đế chế Franks đầu tiên xuất hiện trong lịch sử vào khoảng năm 260. Đôi khi đế chế Franks liên kết với các bộ tộc không nói tiếng Pháp cổ, chẳng hạn như bộ tộc Frisians và thỉnh thoảng với những người Saxons. Người Franks hầu hết sinh sống ở phía Bắc của sông Rhine tại vùng Insula Batavorum, trong một khu vực Panegyrici Latini gọi là "Francia". Họ tạo áp lực trên Đế chế Roman ở biên giới, nhưng cũng hoạt động buôn bán, dịch vụ cho quân lính Roman. Họ dần dần lấn chiếm đất đai người Batavians , theo Ammianus Marcellinus, mở rộng lãnh thổ của họ trên đất Roman, vùng Scheldt, nơi mà các bộ lạc người Salians chặn nguồn cung cấp cho quân Roman. Sau cuộc xâm lăng của người Salians, Chlodio và Childeric, họ di chuyển lên vùng đất Scheldt và sinh sống xung quanh Tournai, nơi mà những bộ lạc người Salians cuối cùng cũng bị quân Roman đánh bại. .
Quân chủng đặc biệt: Phủ bổ đầu
Lợi thế của Đế chế:
- +10% thêm sản lượng Gỗ
- 10% lính ngựa rẻ hơn (bao gồm cả Ngựa cung)
- Điểm thưởng giao dịch - các thương gia có thể mang thêm 10% số tài nguyên (1100 và 1000- các Đế chế khác ), trong Trạm Giao dịch tỉ lệ là 0.03 (so với 0.02), có nghĩa là với Trạm giao dịch cấp cao hơn, chúng co thể giao dịch 100 đơn vị lấy 75(so với 100 cho 50). Cũng vậy, họ có 3 đơn yêu cầu ở Trạm giao dịch cấp 1 và tăng 1 đơn sau mỗi 4 cấp độ (các đế chế khác là 5 cấp tăng 1).
Đức
Người German là một trong những bộ tộc lớn thuộc chủng tộc người Arial đến sinh sống ở vùng biên giới phía bắc và đông bắc của đế quốc Roma từ nhiều thế kỉ trước Công nguyên. Vào những thế kỉ đầu Công nguyên, chế độ công xã nguyên thủy của người German đang trong quá trình tan rã. Do sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh chóng, người German có nhu cầu mở thêm đất đai để sinh sống. Vì vậy, từ cuối thế kỉ II đã có một số tộc người German như người Tây-Gốt, Frank… di cư vào lãnh thổ đế quốc Roma sinh sống và nhận làm đồng minh của Roma. Đến giữa thế kỉ IV, do sự tấn công của người Hung-Nô vào khu vực Đông và Nam Âu, các bộ lạc người German ồ ạt xâm nhập vào đế quốc Roma. Sự khủng hoảng về kinh tế và chính trị ở thời hậu kì đế chế, những cuộc khởi nghĩa của nô lệ và dân nghèo liên tiếp nổ ra ở khắp nơi trong đế quốc đã làm cho Roma không còn đủ sức ngăn ngừa và chống đỡ những cuộc xâm lược cướp phá của người “man tộc”. Vì thế, họ dễ dàng đột nhập vào lãnh thổ của đế quốc, chiếm đất đai và lập nên những vương quốc của riêng mình. Vương quốc “man tộc” được thành lập đầu tiên là Vương quốc Tây-Gốt ở miền Nam xứ Gaule và Tây Ban Nha. Tiếp đó là các Vương quốc Vanda ở Bắc Phi, Vương quốc Frank ở miền Đông Bắc xứ Gaule, Vương quốc của người Angle Sacxong ở đảo Britan v.v… Sau khi xâm nhập vào đế quốc Roma, người German đã chiếm đoạt một bộ phận lớn ruộng đất của quý tộc chủ nô Roma rồi phân chia cho các gia đình cá thể cày cấy. .
Quân chủng đặc biệt: Hiệp sĩ Teuton
Lợi thế của Đế chế:
- +10% thêm sản lượng Sắt
- 10% lính ngựa rẻ hơn (bao gồm cả Ngựa cung)
- Điểm thưởng giao dịch - các thương gia có thể mang thêm 10% số tài nguyên (1100 và 1000- các Đế chế khác ), trong Trạm Giao dịch tỉ lệ là 0.03 (so với 0.02), có nghĩa là với Trạm giao dịch cấp cao hơn, chúng co thể giao dịch 100 đơn vị lấy 75(so với 100 cho 50). Cũng vậy, họ có 3 đơn yêu cầu ở Trạm giao dịch cấp 1 và tăng 1 đơn sau mỗi 4 cấp độ (các đế chế khác là 5 cấp tăng 1).
Goths
Có duy nhất nguồn tài liệu cho lịch sử của Đế chế Gothic là Jordanes' Getica (hoàn thành vào năm 551). Tuy nhiên, đã thất lạc mất mười hai chương về lịch sử của Goths bằng tiếng Ý của Cassiodorus khoảng 530. Cassiodorus cũng đã viết về chủng tộc người Goths, về Theodoric the Great- vị vua xuất sắc của người Ostrogoths, chúng được lưu truyền qua một số các bài hát Gothic về nguồn gốc truyền thống của họ. Một số sử gia , bao gồm cả Peter Heather và Michael Kulikowski, tranh luận rằng Jordanes' Getica đã trình bày hình tượng hư cấu về Theodoric cho mục đích tuyên truyền cổ xưa, và họ nghi ngờ về nguồn gốc Scandinavia của các triều đại hoàng gia trong gần 4 thế kỷ-Vương quốc Ermaneric. Khác với nguồn tư liệu về lịch sử Gothic trong bộ Ammianus Marcellinus' Historiae, Đế chế Gothic được nhắc đến trong chiến tranh giữa Hoàng đế Procopius và Vua Valens vào năm 365, các cuộc di dân của người Gothic tị nạn và những cuộc chiến năm 376-382, mô tả Chiến tranh Gothic 535-552. Theo Jordanes, những người Goths có nguồn gốc ở Scandinavia (Scandza)- ngày nay là Thụy Điển (Gotaland). Họ đã trở thành các bộ tộc cướp bóc, các Gutar (Gotlanders) và có lẽ các Gotar (Geats, gọi tắt là Gautigoths và Ostrogoths của Jordanes). Họ di cư đông-nam dọc theo Vistula trong thời gian 3. Người Goths ít nhất là phân chia thành hai nhóm, các Thervingi, và Greuthungi. Các Thervingi đưa ra một trong những chính sách "barbarian" đầu tiên, xâm phạm Đế chế Roman từ năm 263, 267. Một vài năm sau, họ bị đánh bại trong trận đánh Naissus và lùi về sông Danube năm 271. Nhóm này sau đó định cư phía bắc Danube và thành lập một trung tâm vương quốc độc lập trên địa bàn vùng đất Dacia thuộc Đế chế Roma. Họ chuyển đổi sang Giáo hội Công giáo Rôma -Arianism trong thời gian này. Sự phát triển của vương quốc Ostrogoth đã bắt đầu trong những năm 370s, và dưới áp lực của người Huns, Therving vua Fritigern trong năm 376 đã yêu cầu Đế chế Đông La Mã - Hoàng Đế Valens cho phép được người của mình được sinh sống về phía nam của sông Danube. Hoàng Đế Valens cho phép và thậm chí giúp người Goths băng qua sông, có lẽ tại pháo đài Durostorum. Nhưng sau một nạn đói trong chiến tranh Gothic (376-382) hoành hành, Hoàng Đế Valens đã bị giết tại trận đánh Adrianople. Đế chế Ostrogoths trong khi chờ đợi chính quyền của mình thoát khỏi sự ảnh hưởng của người Huns sau trận đánh Nedao trong năm 454. Ðế chế La Mã có lãnh thổ rất rộng lớn kéo dài từ Châu Âu và Ðịa Trung Hải (Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Tây Ban Nha , Bồ Ðào Nha, Anh (không có Ireland và Scotland),…) sang Bắc Phi (Maroc, Tunisie, Algerie, Ai Cập,…) tới tận Vùng Cận Ðông (Tiểu Á, Palestine, bán đảo A Rập,…). Biên giới phía Bắc là sông Rhine và sông Danube, giáp với các bộ tộc có nguồn gốc từ bán đảo Scandinavia, thường được gọi là các bộ tộc German. Ðế quốc La Mã hưng thịnh trong gần 1000 năm, đem lại sự ổn định, thịnh vượng và trật tự cho thế giới phương Tây. Những con đường nhằm đưa quân từ Rome đến các vùng lãnh thổ ở biên giới La Mã đồng thời cũng được dùng để thông thương giữa các vùng thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, chính vì quá rộng lớn, nên đến năm 284, Hoàng đế La Mã Diocletian quyết định tách La Mã làm 2 phần Ðông và Tây, mỗi phương có một vị hoàng đế (Augustus) và một vị phụ tá (Ceasar). Hệ thống này gọi là Tứ đầu chế (tetrachy). Vào năm 323, sau một cuộc nội chiến, Constantine I trở thành hoàng đế và xây dựng thủ đô của Ðông La Mã tại Bizantium, sau đó đổi tên thành Constantinople. Hai đế chế dần dần tách riêng và độc lập với nhau, mặc dù trên danh nghĩa vẫn nằm trong cùng một La Mã. Người Latin sống ở Tây La Mã, còn người Hy Lạp chiếm số đông ở Ðông La Mã. Ðến đầu thế kỷ V, tại Tây La Mã, người German vượt sông Tibet, người Vandanle chiếm Nam Italy và Bắc Phi, người Ostrogoth, người Visigoth chiếm cứ một phần Italy và phía nam xứ Gaule dến tận sông Loire, Burgonde chiếm cứ lưu vực sông Rihne, người Frank chiếm cứ toàn nước Bỉ. Ðất đai của Tây La Mã vụn ra thành từng mảnh. Năm 451, đạo quân phối hợp giữa La Mã, Goths và Pháp đánh bại quân Hung Nô ở Chalaons, Pháp. Năm 453, Attila, thủ lãnh vĩ đại của người Hun (có nguồn gốc Mông Cổ) qua đời làm đế quốc Hung Nô tan rã nhưng quá trình tiến về phía Tây của họ đem theo những đám dân bán khai như Lombards, Vandals và nhiều dân tộc khác tản mát khắp Tây Âu. Ðến năm 476, Romulus Augustus, hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã, bị hạ bệ và ngai vàng của ông ta bị Odoacer chiếm đoạt. Ðó là giai đoạn cáo chung của Ðế quốc Tây La Mã
Quân chủng đặc biệt: Chiến binh Huskarle
Lợi thế của Đế chế:
- +10% tăng sản lượng Sắt
- 10% Lính bộ rẻ hơn
- Tăng 10% khả năng chứa.
Đông La Mã
Ðế quốc Ðông La Mã - Byzantine tồn tại được lâu hơn đế quốc Tây La Mã rất nhiều, đến tận thế kỷ XV, vì nhiều lý do. Mặc dù cũng được gọi là đế quốc La Mã nhưng Byzantine được thành lập khi Tây La Mã bước vào thời kỳ suy tàn. Vừa kế thừa được những giá trị tốt đẹp của Rome, Byzantine còn kết hợp được những giá trị tốt đẹp của Hy Lạp và đạo Hồi, kết hợp giữa châu Âu và châu Á. Kỷ cương quốc gia được gìn giữ và có những vị hoàng đế anh minh, cùng vị trí địa lí thuận lợi (nằm giữa các eo biển miền Bosporus và biển Bắc Hải cùng các tuyến phòng thủ dày đặc) đã biến Constantinople trở thành gần như bất khả xâm phạm, giúp Byzantine tồn tại được khoảng 1000 năm. Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ bất kỳ quốc gia phong kiến nào, đế chế Byzantine phải trải qua quy luật hình thành, phát triển, suy tàn và diệt vong. Hoàng đế vĩ đại nhất của Byzantine là Justinian I (527-565). Ông không những mở rộng lãnh thổ Byzantine rộng tới tầm cỡ đế chế La Mã thời Cổ đại mà còn có nhiều cải cách tốt về quản lý và tài chính. Bộ luật nổi tiếng "Corpus iuris Civilis" do ông ban hành sau này còn được dùng làm cơ sở luật pháp cho các nước châu Âu. Về mặt kiến trúc, nổi tiếng trong thời kỳ này có nhà thờ Thánh Sophie nổi tiếng nằm tại Constantinople (Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ), một kiệt tác hoà trộn giữa phong cách Thiên chúa giáo và Ả Rập. Tuy nhiên, sau khi Justinian chết, các hậu duệ của ông cũng mắc phải căn bệnh ham chơi, xa xỉ, giống như mọi vương triều trước và sau này khiến Tây La Mã cũng suy sụp dần. Năm 1450, đế quốc này chỉ còn lại Constantinople và các vùng đất nhỏ bé phía Tây mà thôi. Có tài liệu cho rằng Byzantine bắt đầu suy sụp không gượng dậy nổi kể từ khi bán đảo Tiểu Á mất vào tay quân Thổ. Sức mạnh quân sự của Byzantine nằm ở lực lượng kỵ binh nổi tiếng Cataphract nhưng họ đã mất đồng cỏ và nơi sản sinh các kỵ sĩ. Byzantine tồn tại được lâu là nhờ sự giúp đỡ của thành phố Genoire và thành phố Venise cùng địa hình chiến lược của Constantinople. Nhưng khi quân Thổ vây thành và cắt đứt đường tiếp lương thực băng đường biển thì không còn gì có thể cứu vãn Byzantine được nữa. Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng Byzantine suy tàn vì hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, đó là sự cô lập của châu Âu đối với Byzantine. Ðiều này có thể bắt nguồn từ việc phân chia Ðông - Tây La Mã. Byzantine dựa trên cơ sở văn hoá Hy Lạp, nói tiếng Hy Lạp còn Rome thì nói tiêng Latin. Mặc dù Constantine I có công rất lớn trong việc giúp Thiên chúa giáo trở thành quốc đạo ở cả hai đế chế, nhờ đó Thiên chúa giáo mới thống trị Châu Âu như ngày nay nhưng kể từ thế kỷ V, đạo Thiên chúa ở Rome và Constantinople là hai dòng khác nhau và luôn mâu thuẫn với nhau. Về tôn giáo, trên danh nghĩa, Giáo hội tách riêng và các vua chúa châu Âu đều chịu ảnh hưởng của Giáo hoàng. Chẳng hạn Giáo hoàng có quyền phong tước Hoàng đế Thánh La Mã cho một vài hoàng đế ví dụ như Charlemagne. Trong khi đó, ở Byzantine thì hoàng đế vừa là người có quyền lực tối cao của đất nước vừa là người đứng đầu về tôn giáo. Dòng Thiên chúa giáo ở Byzantine được gọi là Monophysite. Sau này, Justinian trong nỗ lực hoà hợp với dòng Thiên chúa giáo ở Rome đã phạm phải một sai lầm rất lớn là giết hại rất nhiều người theo "dị giáo" Monophysite ở Syria và Ai cập, vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho Hồi giáo phát triển rồi sau này tiêu diệt Byzantine. Nguyên nhân thứ hai là do sự phát triển của đạo Hồi, sau đó là người Thổ (Ottoman) đã khiến Byzantine nằm vào vị trí bất lợi, không đủ sức chống đỡ nên lãnh thổ bị co hẹp dần. Ðến năm 1071, người Thổ Seljurk giành thắng lợi quyết định ở Manzikert và sau đó chiếm được Tiểu Á. Tới năm 1261, sau các đợt Thập tự chinh, đế chế Byzantine bị thu hẹp chỉ còn lại Hy Lạp. Đầu thế kỷ XV thì gần như không còn gì ngoài Constantinople và các vùng đất nhỏ bé ở phía Tây Nam. Năm 1422, hoàng đế Ottoman Murad II bao vây Constantinople nhưng không thành công. Cùng năm đó, ông đã đánh bại quân Byantine trong Cuộc vây hãm Thessalonika (1422). Năm 1453, con của Murad II là Mehmed II bao vây Constantinople. Constantine XI, vị hoàng đế cuối cùng, đã anh dũng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ðế quốc do Augustus ngày xưa sáng lập đã sụp đổ hoàn toàn, đánh dấu chấm hết cho thời kỳ Trung cổ và là cột mốc cho một giai đoạn mới: thời kỳ Phục hưng.
Quân chủng đặc biệt: Tu sĩ
Lợi thế của Đế chế:
- +10% thêm sản lượng Gỗ
- 10% Lính cung rẻ hơn Tăng khảng năng chữa vết thương cho quân lính - 150 (200 cho các Đế chế khác)
Anh
Sau khi các quân đoàn La Mã - Đế chế Roman - rút khỏi vùng đất Gaule (Pháp ngày nay) khoảng năm 400 TCN, người Anh rơi vào thời kỳ tăm tối. Người Anh, mang văn hoá Roma, bị đe doạ gần như ngay lập tức bởi sự xâm lược các bộ tộc BARBARIAN và các bộ tộc SCOTTI đến từ Ai-len -theo tên của phía bắc một phần của đảo chính ở Scotland), các tộc người SAXONS, tộc người đến từ đất Đức, người FRISIANS (Hà Lan ngày nay), người JUTES (Đan Mạch ngày nay). Cho đến năm 600 TCN hầu hết các lãnh thổ được cai trị bởi người SAXONS. Cho đến khoảng thế kỷ 9, chỉ Welsh, Scotland và tây Cornwall vẫn là lãnh thổ của người Keltish. Một dòng dõi mới xuất hiện là những người Angle Saxons. Họ đặt tên vùng đất này của họ là đất Anh (England - Land of an angle-đất đai của một góc). Năm 865, người Anh đã có mỗi đe doạ khác-người Vikings ở Đan Mạch đã tấn công Pháp và Đức. Và họ có một đội quân rất lớn hiện nay lần lượt tìm đến các đảo của người Anh. Hầu hết các vương quốc Angle Saxons bại trận hoặc đầu hàng và chỉ có một phần còn lại phía Tây-đất thuộc quyền cai trị của vua Alfred Saxons là chống được sự xâm lấn trong nhiều năm. Đến năm 954, vua Viking đã bị đánh bại và Đế chế Anh đã được đoàn kết lần đầu tiên bởi một nhà vua. Trong 1066 có một cuộc nội chiến giành ngôi vua của nước Anh mà cuối cùng dẫn đến một kết thúc là William lên ngôi vua. Từ 1337 đến 1453 xảy ra cuộc chiến tranh 100 năm giữa Anh và Pháp. Chiến tranh bắt đầu bởi vì vua William của nước Anh muốn ngôi vua của Pháp. Sự độc lập của Scotland cũng là một mục tiêu của cuộc chiến này. Người Anh không ngừng chiến tranh. Những chiến công vĩ đại của Jeanne d'Arc (1412-1431) và trên hết là cái chết đầy dũng khí của bà trong tay quân Anh đã nung nấu tinh thần yêu nước của người Pháp. Năm 1453, nước Pháp tách khỏi Anh quốc, kết thúc bằng trận đánh Bordeaux -1453.
Quân chủng đặc biệt: Cổ thủ quân
Lợi thế của Đế chế:
- +10% tăng sản lượng Vàng
- 10% Xe rẻ hơn
- 10% tăng khả năng chứa.
Ả-rập
Các nhà nghiên cứu sử học cho rằng có sự trao đổi hàng hoá giữa Yemen và Châu Phi. Họ chỉ ra rằng vào thế kỷ thứ nhất TCN Đế chế Arabia đã được hình thành trong các khu-Sheba và Himyar, một bán đảo rộng lớn gồm chủ yếu là những vùng thảo nguyên khô cằn và sa mạc cháy bỏng. Đế chế Arabia đã gần như không thể bị xâm chiếm nhờ vào các môi trường tự nhiên bảo vệ nó - sa mạc. Năm 24 TCN Đế chế Rome xâm lược Arabia và cuối cùng Roma bị đẩy lùi tới bắc Hebjaz một thời gian dài. Vào thế kỷ thứ 7, sau khi Mohamed Moslem sáng lập Hồi giáo- Islem đã thống nhất bán đảo trong một thời gian ngắn. Mục đích của ông là giúp đỡ để chấm dứt sự đấu tranh giữa các quốc gia Ả-rập và để chinh phục các vùng đất mới. Những vùng đất đã được khai phá gồm phía bắc Châu Phi, Châu Á, Tây Ban Nha và tới phía nam của nước Pháp - bị vua Pháp Charles Martel chặn lại vào năm 732 và phía đông của Đế chế Byzantium vào năm 750. Việc phát triển mở rộng lãnh thổ của Moslem là cần thiết để di chuyển thánh đường từ Medina đến Damask. Đế chế Arabia xâm lược Syria và Palestine, đánh chiếm Damascus, biến Jerusalem thành thánh địa của 3 tôn giáo: Hồi giáo, Thiên chúa giáo và Do Thái giáo.
Quân chủng đặt biệt: Quân Janissary
Lợi thế của Đế chế:
- 10% thêm sản lượng Thịt
- 10% Lính bộ rẻ hơn
- Điểm thưởng giao dịch - các thương gia có thể mang thêm 10% số tài nguyên (1100 và 1000- các Đế chế khác ), trong Trạm Giao dịch tỉ lệ là 0.03 (so với 0.02), có nghĩa là với Trạm giao dịch cấp cao hơn, chúng co thể giao dịch 100 đơn vị lấy 75(so với 100 cho 50). Cũng vậy, họ có 3 đơn yêu cầu ở Trạm giao dịch cấp 1 và tăng 1 đơn sau mỗi 4 cấp độ (các đế chế khác là 5 cấp tăng 1).
Li-thua-nia
Đế chế Lithuania lần đầu tiên được đề cập trong tài liệu nghiên cứu là trong khoảng năm 1009, thành lập nhà nước vào khoảng 1183, và phát triển thành một đế quốc hùng mạnh trong thế kỷ 14. Đế chế này tồn tại và phát triển quyền lực qua những cuộc chiến với các Hiệp sỹ Teuton- một Giáo binh đoàn thập tự chinh, gồm những hiệp sĩ mặc áo choàng trắng với chữ thập đen - được hỗ trợ bởi hầu như toàn bộ Hiệp sĩ dòng Cơ đốc giáo ở Châu Âu, các Kỵ binh người Tartar và quân Muscovite Nga.
Cuộc hôn nhân giữa nữ hoàng Jadwiga của Ba Lan và đại công tước Jogaila của Litva vào năm 1377 đã thành lập một liên minh quyền lực giữa Ba Lan và Litva nhằm chống lại mối đe dọa đến từ nước Phổ và Đại Lãnh địa Moskva. Trước đó, đại công tước Jogaila đã cải đạo và biến Litva trở thành một quốc gia theo Cơ đốc giáo. Ngày 2 tháng 2 năm 1386, Jogaila chính thức trở thành vua của Ba Lan. Điều đó có nghĩa là Ba Lan và Litva đã trở thành một quốc gia duy nhất, thế nhưng Đại Lãnh địa Litva vẫn giữ nguyên vị thế riêng của mình. Điều này đã tạo ra nền tảng giao hảo vững bền trong tương lai của Ba Lan và Lithuania. Người kế vị của Jogaila đã tiếp nối để mở rộng thành công với tất cả các ảnh hưởng chính trị của họ trong suốt thế kỷ 15.
Vào cuối thời kỳ Trung cổ gần như toàn bộ của Châu Âu đã được cai trị bởi các triều đại của Hoàng tộc Lát-vi gốc họ Jagiellonian. Các vùng đất của ba anh em Jagiellonian (Wladislas, nhà vua của Bohemia và Hungary; John Albert, nhà vua của Ba Lan; Alexander, Grand Duke của Lithuania) Hoàng tộc họ Jagiellonian hình thành một hệ thống chính trị, mà tồn tại từ 1492 đến 1526.
Quân chủng đặc biệt: Chiến kỵ quân
Lợi thế của Đế chế: p>
Nga
Lịch sử Nga bắt nguồn vùng Đông Slav, là sự hoà trộn các bộ lạc khác nhau như người Goth, Hun và Avar gốc Thổ trong khoảng thời gian từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 6. Bộ lạc người Scythia gốc Iran sinh sống ở các thảo nguyên miền nam, và bộ lạc người Ca dắc (Khazar) gốc Tuốc (Turk) đã cai trị phần phía tây của vùng đất này cho đến thế kỷ 8. Sau đó họ đã bị bộ lạc gốc Scandinavi là người Varangia thay thế, bộ lạc này đã thiết lập thủ đô tại thành phố của người Slav Novgorod và dần dần hòa trộn với người Slav. Người Slav tạo thành nhóm dân cư chính từ thế kỷ 8 trở đi và đồng hóa một cách chậm chạp cả những người gốc Scandinavi cũng như các bộ lạc bản địa gốc Phần Lan-Ugric, chẳng hạn như người Merya, Muromia và Meshchera. Chính quyền của người Varangia tồn tại trong vài thế kỷ, trong thời gian đó họ liên kết với Chính thống giáo và chuyển thủ đô về Kiev năm 1169. Trong kỷ nguyên này thuật ngữ "Rhos", hoặc "Russ" lần đầu tiên được sử dụng để chỉ người Varangia và người Slav sinh sống trong khu vực. Từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 11 quốc gia Rus Kiev đã trở thành lớn nhất ở châu Âu và rất thịnh vượng nhờ các hoạt động thương mại tích cực với cả châu Âu và châu Á. Trong thế kỷ 13 khu vực này trở nên suy yếu vì những tranh chấp nội bộ và bị tàn phá bởi những kẻ xâm lược phương đông là Kim trướng của người Mông Cổ và các bộ lạc Hồi giáo gốc Turk, là những kẻ đã cướp bóc các công quốc Nga trên ba thế kỷ. Còn được biết đến như là người Tatar, họ đã cai trị vùng miền nam và miền trung Nga ngày nay, trong khi các vùng miền tây bị sát nhập vào Đại công quốc Litva và Ba Lan. Sự chia rẽ về chính trị của Rus Kiev đã tách người Nga ở phía bắc ra khỏi người Belarus và người Ukrain ở phía tây. Quân tuần tra Muscovie Nga ở biên giới phía Nam. Phần phía bắc của Nga cùng với Novgorod vẫn giữ được sự tự trị ở một mức độ nhất định trong thời gian cai trị của người Mông Cổ. Tuy thế Nga cũng đã phải chiến đấu chống lại đội quân thập tự chinh của người Đức khi người Đức có ý đồ chiếm khu vực này làm thuộc địa. Giống như khu vực Balkan và Tiểu Á sự cai trị kéo dài của những người du mục đã làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước này. Sự chuyên quyền kiểu châu Á đã ảnh hưởng tiêu cực tới thể chế dân chủ của đất nước cũng như tới văn hóa và kinh tế. Bất chấp điều đó, không giống như lãnh đạo tinh thần của mình là Đế chế Byzantin, Nga đã không suy tàn và tổ chức những cuộc nổi dậy để giành độc lập, cuối cùng đã khuất phục được các kẻ thù của mình và khôi phục, mở mang lãnh thổ. Sau thất thủ của Constantinople năm 1453, Nga là quốc gia Chính thống giáo duy nhất còn thực sự hoạt động nhiều hay ít ở phần biên giới phía đông châu Âu, điều này cho phép Nga có quyền nhận mình là quốc gia kế tục hợp pháp của Đế chế Byzantin. .
Quân chủng đặc biệt: Tháp chiến xa
Lợi thế của Đế chế:
- +10% thêm sản lượng Gỗ
- 10% Xe rẻ hơn
- tăng 10% khả năng chứa.
Đăng ký vào Thế giới 1
Xin lưu ý: Tên người chơi và mật khẩu phải có ít nhất 3 ký tự và bạn nên cung cấp địa chỉ email tồn tại..
Góp Ý
Xin lưu ý:
- Vui lòng nhập đầy đủ thông tin trong bảng phía dưới.
- Câu trả lời hỗ trợ của BQT sẽ gửi tới email mà bạn điền phía dưới đây.
- Kênh thông tin Hỗ trợ là kênh để giúp đỡ người chơi. Đây không là nơi để bạn hỏi những câu hỏi không liên quan đến trò chơi. Những câu hỏi ngoài lề hoặc spam sẽ có thể làm bạn bị khóa nick vĩnh viễn.
Vietnamese
Arabic
Brazil
Bulgarian
Chile
Croatian
Dutch (BE)
Dutch (NL)
English (Global)
English (SA)
Farsi
French
German
German (Austria)
Greek
Hebrew
India
Italian
Japanese
Lithuanian
Magyar
Malay
Mexico
Norwegian
Pakistan
Polish
Portugal
Romanian
Russian
Slovenian
Spanish
Swedish
Turkish
Ukrainian
Venezuela
Vietnamese
Đăng nhập
Tạo tài khoản mớiVài phút lướt qua Đế chế
Thống kê
- Số người chơi đăng ký: 284,826
- Số đăng ký hôm qua: 419
- Số đăng ký hôm nay: 119
Phương thức thanh toán
Người chơi chỉ được quyền có và sử dụng 01 tài khoản để tham gia chơi trong 01 thế giới trò chơi. Hệ thống quản lý tài khoản sẽ giúp điều hành viên phát hiện, ghi nhận vi phạm chơi cùng lúc nhiều tài khoản của người chơi, các tài khoản này sẽ bị khoá một cách hợp lệ mà không cần báo trước.
Quy đinh Trò chơi | Trợ giúp | Diễn đàn | Góp Ý | Imprint
Trò chơi được hỗ trợ tốt nhất với trình duyệt Firefox.
© 2005-2009 — XS Software. nắm giữ bản quyền trò chơi.
VDC-Net2E nhà phân phối tại Việt Nam .
